Tin Khoa học Công nghệ trong nước

Kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược biển

01/10/2018 | 0
Ngày 28/9, trình bày về hướng điều chỉnh, bổ sung Chiến lược biển Việt Nam đến 2020 sau khi tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về vấn đề này tại cuộc họp báo thông tin về nội dung Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Ủy viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà cho biết, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Bộ TN-MT đã chuẩn bị rất kỹ một số nội dung để đề xuất quyết định cụ thể

Ngày 28/9, trình bày về hướng điều chỉnh, bổ sung Chiến lược biển Việt Nam đến 2020 sau khi tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về vấn đề này tại cuộc họp báo thông tin về nội dung Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Ủy viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà cho biết, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Bộ TN-MT đã chuẩn bị rất kỹ một số nội dung để đề xuất quyết định cụ thể. Công việc được thực hiện bài bản, Trung ương lập hẳn một ban chỉ đạo để nghiên cứu, chuẩn bị.

Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà sơ lược báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam

Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà sơ lược báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam

Khu vực ven biển đem lại 60-70% GDP

Khái quát về kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược biển, Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, Ban chỉ đạo đã đánh giá toàn diện, từ vấn đề kinh tế, an ninh quốc phòng, môi trường cho tới vấn đề tư duy, quan điểm. 10 năm qua, Chiến lược biển đã mang lại sự thay đổi căn bản. Việt Nam chuyển hẳn định hướng trở thành một quốc gia biển, hướng ra biển, coi biển là cửa ngõ, là bậc thềm để Việt Nam vươn ra thế giới.

“Đánh giá chung về chỉ số GDP của các tỉnh ven biển, kết quả phát triển kinh tế xã hội khu vực ven biển, cuộc sống người dân ven viển… đều cho thấy các vùng ven biển đã trở thành những khu vực phát triển hết sức năng động. Các vùng này trở thành trung tâm kinh tế và động lực kinh tế, tạo động lực rất lớn về đầu tư và phát triển cho cả nước” – Bộ trưởng TN-MT nhận định.

Ông Hà nhấn mạnh, thành tựu đạt được từ việc thực hiện Chiến lược biển là cơ bản. Tính chung GDP cả nước, khu vực ven biển chiếm tới 60-70%. Đời sống người dân vùng biển cải thiện nhanh so với nhiều địa phương không có biển. Các vấn đề khác như an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền, trật tự thì đều đạt quốc tế tốt.

Tuy nhiên cũng có nhiều mục tiêu đề ra không đạt được như kỳ vọng. Đơn cử như chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ biển, dù tỷ trọng tăng nhanh nhưng thu nhập đầu người của người dân vùng biển vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước. Điều đó chứng tỏ những yếu tố khác như chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề… quyết định lớn tới chất lượng tăng trưởng. Những tính toán đưa ra chưa hết nên thực hiện chưa được xác đáng.

Những mục tiêu kỳ vọng khác cũng không đạt, theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà gồm có phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, khai thác dầu khí, công nghiệp hàng hải. Báo cáo tổng kết chỉ ra cụ thể những tồn tại đó cũng như những nguyên nhân chủ chốt dẫn tới kết quả đó.

Sự nóng vội và những sai phạm, thiệt hại ở Vinashin, Vinalines

Bộ trưởng TN-MT lấy ví dụ, ngành dầu khí không đạt chỉ tiêu phát triển có lý do khách quan là giá dầu thế giới biến động quá mạnh. Ngay khi Chiến lược biển vừa được thông qua thì nền kinh tế thế giới liên tiếp gặp khủng hoảng, giá dầu “rớt” ở mức ngoài khả năng có thể dự báo.

Còn thất bại trong việc xây dựng ngành công nghiệp đóng tàu là do mô hình các loại doanh nghiệp như Vinashin, Vinalines thế nào, phương thức quản lý ra sao, mức đầu tư khoa học công nghệ… chưa phù hợp. Các cơ quan lãnh đạo cũng còn nóng vội, duy ý chí nên để xảy ra những sai phạm, thiệt hại như đã thấy.

Bộ trưởng phân tích: “Đến thời điểm này, công nghiệp đóng tàu không còn được xác định là một ngành mũi nhọn nữa, đã qua những cơ hội để tranh thủ phát triển ngành này thành chỗ dựa của quốc gia khi hướng ra biển”.

Dự thảo nghị quyết điều chỉnh Chiến lược biển trình ra TƯ tại hội nghị 8 lần này, với những Vinahin, Vinalines, những gì còn tồn tại sẽ tiếp tục để thừa kế, phát triển. Lý do, đã xác định là một quốc gia biển, không thể mãi đi mượn, đi thuê, đi mua tàu ở bên ngoài mà cần đóng được tàu để sử dụng. Vậy nên ngành công nghiệp đóng tàu vẫn sẽ rất quan trọng nhưng buộc tại tái cấu trúc, từ quản trị cho tới chất lượng tăng trưởng trên cơ sở ứng dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao để làm ra những sản phẩm có sức cạnh tranh với quốc tế về kinh tế cũng như mặt kỹ thuật.

Với ngành hàng hải, người chủ trì đề án điều chỉnh chiến lược biển lập luận, nếu không phát triển, sao đáp ứng yêu cầu vươn ra, giao lưu với thế giới được. Mặt khác, các cơ quan dự báo thời gian tới, nhu cầu về giao dịch giữa các khu vực kinh tế thế giới cũng tăng lên nhiều lần, theo đó, hàng hải tiếp tục là lợi thế kinh tế của Việt Nam, cần phải thúc đẩy.

Ngành thủy sản đã có xu hướng chuyển từ khai thác truyền thống gần bờ sang diện xa bờ hơn, bền vững hơn. Từ đó, một định hướng đưa ra là công nghiệp hóa ngành khai thác tài sản, tính đến sự an toàn bền vững của hệ sinh vật biển, chuyển từ khai thác truyền thống sang nuôi trồng trên biển (nuôi trồng ở các vùng biển xa hoặc ở quanh các đảo).

“Căn bản nhất phải xác định chuyển đổi mô hình kinh tế xanh, các lĩnh vực kinh tế phải dựa trên ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, lấy môi trường, hệ sinh thái tự nhiên làm nền tảng đầu vào cho phát triển. Kinh tế xanh chính là ngành kinh tế mới tạo ra công ăn việc làm, phúc lợi xã hội, hiệu quả kinh tế cho đất nước trong lương lai” – Bộ trưởng Hà khẳng định.

Một số ngành kinh tế mới, theo đó, sẽ được thúc đẩy phát triển như nuôi trồng biển, làm du kịch sinh thái, năng lượng biển (như năng lượng gió, mặt trời, sóng biển), khai thác dược liệu biển… trong đó, du lịch sinh thái sẽ chiếm vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế.

Nguồn: Báo Dân trí

https://dantri.com.vn/chinh-tri/dieu-chinh-chien-luoc-bien-tu-nhung-that-bai-nhu-vinashin-vinalines-20180928205138147.htm