Tin Khoa học Công nghệ của Bộ

KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TẠI THỰC ĐỊA ĐỐI VỚI SẢN PHẨM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

30/12/2020 | 0
Thực hiện Quyết định số 2781/QĐ-BTNMT ngày 09/12/2020 về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ cấp bộ “Nghiên cứu đề xuất quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn vùng Đồng bằng Sông Hồng. Thử nghiệm ở tỉnh Hưng Yên; Mã số: TNMT.2017.02.04”.

KẾT QUẢ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

Thực hiện Quyết định số 2781/QĐ-BTNMT ngày 09/12/2020 về việc thành lập Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ cấp bộ “Nghiên cứu đề xuất quy trình công nghệ tích nước ngọt trong các tầng chứa nước mặn vùng Đồng bằng Sông Hồng. Thử nghiệm ở tỉnh Hưng Yên; Mã số: TNMT.2017.02.04”.

I. THÔNG TIN CHUNG

Ngày 19 tháng 12 năm 2020, Tổ chuyên gia tư vấn độc lập đánh giá kết quả nhiệm vụ TNMT.2017.02.04 đã tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả nhiệm vụ tại thực địa.

1.1. Thành phần đoàn

1. PGS.TS Đoàn Văn Cánh – Tổ trưởng

2. PGS. TS Nguyễn Văn Hoàng – tổ viên

3. ThS Đoàn Thế Hùng – tổ viên, thư ký.

1.2. Địa điểm

Nhà máy nước Ngọc Tuấn Nagaoka, thôn Tạ Thượng, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;

1.3. Đối tượng được kiểm tra

Mô hình thử nghiệm lưu trữ nước ngọt trong tầng chứa nước mặn thuộc Đề tài mã số TNMT.2017.02.04.

II. KẾT QUẢ KIỂM TRA

Đoàn đã kiểm tra công trình, kiểm tra hồ sơ và thẩm định quy trình vận hành công trình, cụ thể như sau:

2.1. Về thiết kế và thi công công trình:

- Đoàn đã kiểm tra về sơ đồ bãi thử nghiệm như sau:Công trình thử nghiệm bao gồm hệ thống 04 giếng khoan có đường kính D219mm, chiều sâu 60,0m trong đó chiều dài đoạn ống lọc từ 45,0 m đến 60,0 m trong tầng chứa nước Pleistocen (qp); trong đó có 3 giếng hấp phụ nước và 01 giếng khai thác.

- Hệ thống xử lý trước bổ cập bao gồm:

+ Bể lắng kích thước 6x3x2,5m; ở giữa có vách ngăn cao 1,5m.

+ Bể lọc kích thước 6x3x2m.

+ Hệ thống đường ống HDPE đường kính D110 mm từ bể lọc đến các giếng.

2.2. Về đặc điểm tầng chứa nước:

- Tầng chứa nước lưu trữ: Tầng chứa nước Pleistocen (qp), chiều sâu từ 45,0m đến 80,0m; dày 35,0m; thành phần thạch học: cát hạt thô lẫn sạn sỏi, cuội.

- Lưu lượng các giếng khoan: Kết quả bơm thí nghiệm xác định các giếng khoan có lưu lượng lớn, kết quả bơm thí nghiệm lưu lượng đạt 8,0 l/s; hạ thấp 5,0m; tỷ lưu lượng 1,6 l/sm.

- Nước trong tầng là nước lợ, TDS theo kết quả phân tích mẫu là 1,1 g/l. Giá trị độ dẫn điện của các giếng dao động từ 1250 µs/cm đến 1350 µs/cm.

2.3. Về quy trình vận hành thí nghiệm, nguồn nước bổ cập

- Nguồn nước thô cung cấp cho nhà máy nước Ngọc Tuấn Nagaoka từ sông Hồng, được bơm về qua hệ thống đường ống D500 từ khu vực xã Phú Cường, TP Hưng Yên (cách nhà máy nước Ngọc Tuấn khoảng 10 km). Tại nhà máy, đường ống nước thô được trích một phần cho mô hình thử nghiệm (qua ống D50).

Quá trình vận hàn thử nghiệm như sau:

Ép trực tiếp: Việc ép nước được tiến hành bằng ống dẫn đường kính D50 nối từ ống dẫn nước thô của nhà máy (ống D500). Ống dẫn nước D50 có van và đồng hồ để kiểm soát và xác định lượng nước được ép xuống tầng chứa nước. Lượng nước ép xuống tầng chứa nước qua ống dẫn đường kính D50.

Bổ cập qua bể lắng, lọc: Đối với việc bổ cập vào các giếng hấp thụ nước, nước qua bể lắng, lọc rồi qua hệ thống ống dẫn chảy tràn vào giếng hấp thụ.

Đên nay, đã vận hành thử nghiệm được 3 vòng bao gồm. Vòng 1 Mô hình thí nghiệm: Mô hình ASR (Aquifer Strorage and Recovery)  bổ cập, lưu trữ và khai thác nước tại 1 giếng khoan, thời gian tiến hành 25 ngày, lượng nước bổ cập và thu hồi là 3560 m3.

Vòng 2: Thời gian thử nghiệm 59 ngày; lượng nước bổ cập, thu hồi là 4440 m3.

Vòng 3: Hình thức bổ cập: Nguồn nước qua hệ thống bể lắng, bể lọc xuống các giếng hấp phụ nước. Thời gian tiến hành 10 ngày. Tại vòng 3 là chảy trọng lực qua các giếng hấp phụ.

Kết quả tính toán hiệu suất thu hồi đạt khoảng 56% nếu so sánh với nguồn nước thô và đạt 100% khi so sánh với QCVN 09-MT/BTNMT 2015.

2.4. Tại mô hình bổ cập, trong quá trình vận hành:

- Quá trình thi công, chống ống cao độ miệng giếng không đồng đều, chênh lệch từ 10 – 15 cm.

- Quá trình vận hành, các giếng được lắp van một chiều, đảm bảo cho nước có thể chảy đến toán bộ các giếng khi vận hành do đó sự chênh lệch về cao độ miệng giếng thực tế không ảnh hưởng đến quá trình vận hành, hấp phụ nước.

2.5. Tại mô hình bổ cập

- Nước từ nguồn nước thô sông Hồng qua hệ thống ông dẫn D50 (có đồng hồ kiểm soát lưu lượng) được dẫn vào bể lắng sơ bộ, bể lắng có vách ngăn cao 1,5m; nước từ khoang thứ nhất của bể lắng, chảy tràn qua vách ngăn vào khoang thứ 2 sau đó qua ống dẫn vào hệ thống bể lọc, các ống dẫn từ bể lắng đi vào dưới đáy bể lọc, và được phủ lớp lọc cuội sỏi, nước thấm qua lớp cuội sỏi này đi vào hệ thống ống dẫn để đến các lỗ khoan hấp phụ nước, tại các lỗ khoan hấp phụ nước được chảy qua hệ thống sỏi lọc một lần nước trước khi chảy vào giếng khoan. Tại mỗi giếng hấp phụ có hệ thống van một chiều, và lưới bọ miệng giếng để đảm bảo khả năng vận hành độc lập của mỗi công trình.

Về quy trình vận hành ép nước: Ống ép nước được nối với mặt bích (đã có cho từng giếng), sau đó ép trực tiếp vào giếng từng đường ống D50.