Tin Khoa học Công nghệ của Bộ

Hội thảo “Xây dựng dự án khoanh định các khu vực nhạy cảm về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá lãnh thổ Việt Nam”

19/11/2020 | 0
Sáng ngày 18 tháng 11 năm 2020 Vụ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo “Xây dựng dự án khoanh định các khu vực nhạy cảm về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá lãnh thổ Việt Nam” Hội thảo nhằm lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học trong lĩnh vực Khí tượng Thủy văn và Địa chất về nội dung và cách thức triển khai Dự án trong thời gian tới. Nội dung trao đổi, thảo luận tại Hội thảo tập trung về định nghĩa vùng nhạy cảm và tiêu chí xác đinh vùng nhạy cảm về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá là gì; sản phẩm của dự án là gì; sử dụng công nghệ gì để thích hợp với điều kiện, hiện trạng tai biến hiện nay.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ông Trần Bình Trọng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ đã đặt ra yêu cầu đối với các cấp quản lý ở trung ương và địa phương phải nhanh chóng tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng phó với các thiên tai, trong đó có các tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét, nhằm phòng, tránh, giảm thiểu thiệt hại của chúng, bảo đảm sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội và an toàn của người dân. Các yêu cầu cụ thể đặt ra:

(1) Biết được trong khu vực đang sinh sống, vị trí cụ thể nào có nguy cơ cao hoặc rất cao về tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét. Nếu có nhà và các công trình khác tại các vị trí này thì có phải di chuyển không. Trường hợp chưa di chuyển được thì khi nào sẽ gặp nguy hiểm và phải di dời; thời điểm phải di dời? nếu di dời thì di dời đến đâu.

(2) Trong phạm vi địa phương (làng bản hoặc trong phạm vi xã, lân cận nơi đang sinh sống), những khu vực nào là an toàn hoặc có nguy cơ thấp về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét để có thể di dân hoặc lập khu dân cưu mới, xây dựng công trình hoặc phát triển các dự án kinh tế mới.

(3) Các thiệt hại về người và của có thể xảy ra nếu như xảy ra tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét trên địa bàn (vị trí cụ thể có thể xảy ra và mức đọ thiệt hại (khu vực đó có báo nhiều nhà, bao nhiêu dân, công trình gì); số liệu này được lượng hóa sẽ dẫn đến quyết tâm cao hơn của chính quyền và nhân dân địa phương có phương án di chuyển, quy hoạch lại dân cư đến các vị trí an toàn hơn.

(4) Người dân bản địa, chính quyền địa phương và khách vãng lai mong muốn có được thông tin cảnh báo theo thời gian thực, theo từng vị trí để có thể tránh, di dời khi có nguy cơ xảy ra tai biến (khi có mưa dài ngày, có mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn…).

(5) Đối với chính quyền cấp Tỉnh, cần biết các thông tin này trên toàn Tỉnh, ở tất cả các vùng nhạy cảm trong Tỉnh để có các phương án phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, trong đó có các loại tai biến này. Đồng thời thực hiện quy hoạch và chuyển dịch dân cư, quy hoạch phát triển kinh tế theo hướng bền vững (ít tác động vào tự nhiên hơn, giảm các tác nhân kích ứng tai biến; không phát triển các công trình kinh tế, dân cư tại các vị trí nguy cơ cao…). Cần sớm có các kết quả điều tra (bản đồ) ở tỷ lệ lớn, đủ mức chi tiết. Hệ thống cảnh báo có thể cảnh báo đến các khu vực cụ thể (cấp xã) và cung cấp theo thời gian thực để sớm xây dựng các kịch bản ứng phó và chỉ đạo ứng phó trên địa bàn khi xuất hiện nguy cơ.



Hội thảo đã nhận được các ý kiến đóng góp, trao đổi của các các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Khí tượng Thủy văn và Địa chất từ Đại học Mỏ địa chất, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Viện Địa Chất – Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu. Trọng tâm ý kiến đóng góp của các chuyên gia là:

(1) Đây là dự án đa lĩnh vực, có tầm quan trọng đặc biệt cả hiện nay và mãi mãi về sau, có thể bao gồm cả các hoạt động điều tra, quan trắc, cảnh báo, dự báo thời gian thực (trong điều kiện cho phép tại một số vị trí), giáo dục cộng đồng, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin cảnh báo thời gian thực, (có thể dự báo trong điều kiện cho phép) về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét đến cấp xã qua ứng dụng trên điện thoại di động.

(2) Cần xác định tên, mục tiêu, nội dung, các phương pháp và kỹ thuật thực hiện, sản phẩm dự kiến của Dự án; quan hệ với các dự án/đề án đã, đang và sẽ thực hiện để bảo đảm kế thừa, không trùng lặp; thời gian thực hiện dự án; loại hình dự án thuộc cấp nào, dự kiến tổng kinh phí và nguồn kinh phí cho dự án; mô hình tổ chức, phân công xây dựng và tổ chức thực hiện dự án.

(3) Dự kiến các sản phẩm chính của dự án, mức độ chi tiết của các sản phẩm điều tra, cảnh báo; đánh giá sơ bộ về mức độ đáp ứng yêu cầu sau 3 năm, 5 năm thực hiện dự án và các giải pháp tiếp theo thời gian này (Việc cập nhật, vận hành hệ thống do dự án tạo ra sau khi kết thúc).

(4) Các kỹ thuật, công nghệ mới cần sử dụng để đẩy nhanh tiến độ và giảm giá thành.

(5) Các văn bản cần ban hành để phục vụ cho việc xây dựng, thực hiện dự án.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ông Trần Bình Trọng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ đã đặt ra yêu cầu đối với các cấp quản lý ở trung ương và địa phương phải nhanh chóng tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng phó với các thiên tai, trong đó có các tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét, nhằm phòng, tránh, giảm thiểu thiệt hại của chúng, bảo đảm sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội và an toàn của người dân. Các yêu cầu cụ thể đặt ra:

(1) Biết được trong khu vực đang sinh sống, vị trí cụ thể nào có nguy cơ cao hoặc rất cao về tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét. Nếu có nhà và các công trình khác tại các vị trí này thì có phải di chuyển không. Trường hợp chưa di chuyển được thì khi nào sẽ gặp nguy hiểm và phải di dời; thời điểm phải di dời? nếu di dời thì di dời đến đâu.

(2) Trong phạm vi địa phương (làng bản hoặc trong phạm vi xã, lân cận nơi đang sinh sống), những khu vực nào là an toàn hoặc có nguy cơ thấp về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét để có thể di dân hoặc lập khu dân cưu mới, xây dựng công trình hoặc phát triển các dự án kinh tế mới.

(3) Các thiệt hại về người và của có thể xảy ra nếu như xảy ra tai biến trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét trên địa bàn (vị trí cụ thể có thể xảy ra và mức đọ thiệt hại (khu vực đó có báo nhiều nhà, bao nhiêu dân, công trình gì); số liệu này được lượng hóa sẽ dẫn đến quyết tâm cao hơn của chính quyền và nhân dân địa phương có phương án di chuyển, quy hoạch lại dân cư đến các vị trí an toàn hơn.

(4) Người dân bản địa, chính quyền địa phương và khách vãng lai mong muốn có được thông tin cảnh báo theo thời gian thực, theo từng vị trí để có thể tránh, di dời khi có nguy cơ xảy ra tai biến (khi có mưa dài ngày, có mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn…).

(5) Đối với chính quyền cấp Tỉnh, cần biết các thông tin này trên toàn Tỉnh, ở tất cả các vùng nhạy cảm trong Tỉnh để có các phương án phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, trong đó có các loại tai biến này. Đồng thời thực hiện quy hoạch và chuyển dịch dân cư, quy hoạch phát triển kinh tế theo hướng bền vững (ít tác động vào tự nhiên hơn, giảm các tác nhân kích ứng tai biến; không phát triển các công trình kinh tế, dân cư tại các vị trí nguy cơ cao…). Cần sớm có các kết quả điều tra (bản đồ) ở tỷ lệ lớn, đủ mức chi tiết. Hệ thống cảnh báo có thể cảnh báo đến các khu vực cụ thể (cấp xã) và cung cấp theo thời gian thực để sớm xây dựng các kịch bản ứng phó và chỉ đạo ứng phó trên địa bàn khi xuất hiện nguy cơ.

Hội thảo đã nhận được các ý kiến đóng góp, trao đổi của các các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Khí tượng Thủy văn và Địa chất từ Đại học Mỏ địa chất, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Viện Địa Chất – Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu. Trọng tâm ý kiến đóng góp của các chuyên gia là:

(1) Đây là dự án đa lĩnh vực, có tầm quan trọng đặc biệt cả hiện nay và mãi mãi về sau, có thể bao gồm cả các hoạt động điều tra, quan trắc, cảnh báo, dự báo thời gian thực (trong điều kiện cho phép tại một số vị trí), giáo dục cộng đồng, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin cảnh báo thời gian thực, (có thể dự báo trong điều kiện cho phép) về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá, lũ ống, lũ quét đến cấp xã qua ứng dụng trên điện thoại di động.

(2) Cần xác định tên, mục tiêu, nội dung, các phương pháp và kỹ thuật thực hiện, sản phẩm dự kiến của Dự án; quan hệ với các dự án/đề án đã, đang và sẽ thực hiện để bảo đảm kế thừa, không trùng lặp; thời gian thực hiện dự án; loại hình dự án thuộc cấp nào, dự kiến tổng kinh phí và nguồn kinh phí cho dự án; mô hình tổ chức, phân công xây dựng và tổ chức thực hiện dự án.

(3) Dự kiến các sản phẩm chính của dự án, mức độ chi tiết của các sản phẩm điều tra, cảnh báo; đánh giá sơ bộ về mức độ đáp ứng yêu cầu sau 3 năm, 5 năm thực hiện dự án và các giải pháp tiếp theo thời gian này (Việc cập nhật, vận hành hệ thống do dự án tạo ra sau khi kết thúc).

(4) Các kỹ thuật, công nghệ mới cần sử dụng để đẩy nhanh tiến độ và giảm giá thành.

(5) Các văn bản cần ban hành để phục vụ cho việc xây dựng, thực hiện dự án.

Kết luận Hội thảo, Vụ trưởng Trần Bình Trọng khẳng định rằng đây là Dự án cực kỳ cấp thiết và phải triển khai ngay để đáp ứng yêu cầu hiện nay. Đồng thời cần định nghĩa được vùng nhạy cảm và tiêu chí xác định vùng nhạy cảm về trượt lở, sạt lở đất đá, lũ bùn đá là gì; sản phẩm của dự án là gì; sử dụng công nghệ gì để thích hợp với điều kiện, hiện trạng tai biến. Xác định rõ để Dự án được thành công thì cần có sự hợp tác chặt chẽ của nhiều lĩnh vực và các đơn vị trong và ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các chuyên và các nhà khoa học có liên quan.

Kết thúc hội thảo, Vụ trưởng Trần Bình Trọng xin trân trọng cảm ơn GS. TS. Trần Thanh Hải - Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ Địa chất, PGS. TS. Vũ Thị Minh Nguyệt - Phó Viện trưởng Viện Địa Chất – Viện Hàn Lâm Khoa học Việt Nam và các Lãnh đạo đơn vị, các nhà khoa học đến từ các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có các đóng góp vào thành công của Hội thảo.